Y đức, y đạo và mối quan hệ thầy thuốc & bệnh nhân – BS Nguyễn Đức Kiệt

Trong mấy năm gần đây, từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, nhiều giá trị xã hội bị thay đổi. Đối với ngành y, bên cạnh một số thành tích rất đáng tự hào, có nơi, có lúc người ta còn kêu ca phàn nàn rằng tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân sa sút, y đức bị xói mòn, y đạo không được tôn trọng. Vậy y đức là gì? Y đạo là gì? Nội dung của y đức ra sao? Những nguyên nhân gì đã tác động đến y đức? và điều quan trọng hơn là làm thế nào để nâng cao được y đức trong ngành Y tế? Đó là những vấn đề nóng bỏng của xã hội ngày nay, và cũng là vấn đề mà người viết bài này muốn đề cập.

Nhân học y học với các quan niệm mới về sức khỏe, ốm đau, bệnh tật – BS Nguyễn Đức Kiệt
Đào tạo cán bộ đông y, cơ hội và thách thức – BS Nguyễn Đức Kiệt
Hiện trạng hành nghề y dược tư nhân – BS Nguyễn Đức Kiệt
Hippocrates

Hippocrates

Đông dược Phú Hà – Trong mấy năm gần đây, từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, nhiều giá trị xã hội bị thay đổi. Đối với ngành y, bên cạnh một số thành tích rất đáng tự hào, có nơi, có lúc người ta còn kêu ca phàn nàn rằng tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân sa sút, y đức bị xói mòn, y đạo không được tôn trọng. Vậy y đức là gì? Y đạo là gì? Nội dung của y đức ra sao? Những nguyên nhân gì đã tác động đến y đức? và điều quan trọng hơn là làm thế nào để nâng cao được y đức trong ngành Y tế? Đó là những vấn đề nóng bỏng của xã hội ngày nay, và cũng là vấn đề mà người viết bài này muốn đề cập.

Trước hết chúng ta hãy xem xét y đức là gì, y đạo là gì?

Trong xã hội loài người, ngành nghề nào cũng đòi hỏi phải có đạo đức mà người ta thường gọi là “đạo đức nghề nghiệp”. Ngành y là một ngành có liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của con người. Mà sức khoẻ, tính mạng của con người là vốn quý nhất, nên đòi hỏi người làm việc trong ngành y cũng phải có những phẩm chất đặc biệt. Không phải ai cũng đủ tiêu chuẩn làm việc trong ngành y.

Theo các nhà xã hội học, “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội“[1]. Như vậy, đạo đức của ngành Y, hay nói cách khác, Y đức, là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi và mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh nhân và với đồng nghiệp.

Nhưng vì tính mạng, sức khoẻ của con người là quý giá nhất, nên chỉ dựa vào dư luận xã hội, nghĩa là chỉ có Y đức thôi chưa đủ, mà mỗi Nhà nước, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể và phong tục tập quán của đất nước, dân tộc mình, đều đưa một số điểm quan trọng của Y đức vào luật và các văn bản dưới luật, quy định bắt buộc cả thầy thuốc và bệnh nhân phải tuân thủ, người ta gọi đó là Y đạo. Như vậy, Y đạo là y đức đã được thể chế hoá thành các quy định, bắt buộc mọi người phải tuân thủ. Nói cách khác, y đạo là con đường của ngành y, là hành lang pháp lý mà người hành nghề y phải tuân thủ.

Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân của Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30-6-1989[2], đó là cơ sở pháp lý cao nhất về y đạo.

Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị định số 23/HĐBT ngày 24-1-1991 ban hành 5 điều lệ, đó là: Điều lệ Vệ sinh; Điều lệ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền dân tộc; Điều lệ thuốc phòng, chữa bệnh; Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng và Điều lệ thanh tra nhà nước về Y tế. Trong nền kinh tế thị trường, việc hành nghề y dược tư nhân là tất yếu. Ngày 13-10-1993, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký Lệnh số 26 ban hành Pháp lệnh về hành nghề y dược tư nhân. Đó cũng chính là y đạo.

Chăm sóc sức khỏe

Chăm sóc sức khỏe

Vậy, nội dung của y đức là gì?

Tuy y đạo của các nước, các thời đại có khác nhau, nhưng qua các lời thề và những lời di huấn từ xưa đến nay, phương Đông hay phương Tây, thì y đức đều có những điểm chung, đó là hành vi, thái độ của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, là bổn phận, trách nhiệm của người thầy thuốc, là sự thông cảm đối với người bệnh. Ta có thể điểm qua các lời thề và lời di huấn của người xưa để hiểu về nội dung y đức.

Trên thế giới, nói đến ông tổ ngành Y phải nói đến Hypôcrat[3], một thầy thuốc danh tiếng thời Hy Lạp cổ đại, người sống cách chúng ta gần 2500 năm, nhưng những tư tưởng, kiến thức của ông cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt ông đã dạy người làm ngành Y phải có Y đức, mà những lời dạy ấy, sau này những người nối nghiệp ông đã viết nên một lời thề nghề nghiệp mà tất cả những bác sĩ khi tốt nghiệp ra trường đều phải tuyên thệ, đó là “Lời thề Hypôcrat”. Trong lời thề này có đoạn:

Tôi xin thề sẽ trung thành với quy tắc danh dự và sẽ liêm khiết trong khi hành nghề bác sĩ. Tôi sẽ săn sóc miễn phí cho người nghèo, không bao giờ đòi hỏi một sự thù lao quá đáng so với công sức đã bỏ ra. Được mời đến gia đình, mắt tôi không để ý đến mọi sự xảy ra, miệng tôi sẽ giữ kín những bí mật mà người bệnh đã thổ lộ. Tôi sẽ không lợi dụng địa vị của mình để làm đồi bại phong tục hoặc tán dương tội ác. Một lòng tôn trọng và biết ơn các thầy, tôi sẽ truyền bá cho các con cháu các thầy những giáo huấn mà tôi đã lĩnh hội được. Nếu tôi giữ trọn lời thề, người đời sẽ quý mến; nếu tôi thất hứa, tôi sẽ mang mối ô danh và cam chịu sự khinh bỉ của các bạn đồng nghiệp và của nhân dân“. Như vậy là đã hàng ngàn năm nay, dù trong chế độ xã hội nào thì nghề thầy thuốc cũng phải lấy đạo đức làm trọng.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, một danh y Việt Nam thời hậu Lê, trong tác phẩm sách thuốc đồ sộ của mình, ngay từ tập đầu tiên đã dạy y đức cho người thầy thuốc trước khi dạy họ làm thuốc. Cụ dạy: “Nếu nhà bệnh có mời, nên tùy bệnh nặng hay nhẹ mà đi xem, đừng thấy người phú quý mà đi trước, nhà nghèo khổ mà đi sau. Xem mạch cho đàn bà con gái, nhất là gái goá và ni cô, phải bảo một người đứng bên để tránh sự hiềm nghi. Đã là nhà làm thuốc phải để ý giúp người, không nên vắng nhà luôn, nhất là đi chơi. Chữa bệnh cho người nghèo và quan quả cô độc càng cần phải lưu ý, nhất là người con hiếu, vợ hiền hay nhà nghèo mà bệnh trọng thì ngoài việc cho thuốc, ta có thể trợ cấp thêm nếu họ không đủ ăn, như thế mới là nhân thuật. Khi bệnh nhân khỏi, chớ cầu trả lễ nhiều, nên để họ tự xử, vì làm thuốc là thuật thanh cao, thì người làm thuốc phải có tiết thanh cao. Tôi thường thấy các thầy thuốc tầm thường, hoặc nhân người bệnh ốm nặng, hoặc nhân lúc nguy cấp về đêm tối, mà bệnh dễ chữa bảo là khó, bệnh khó bảo là không chữa được; hay đối với người giàu sang quyền quý thì ân cần để tính lợi, với người nghèo túng thì lạnh nhạt coi thường, như vậy là bất lương, coi nghề làm thuốc cũng như nghề buôn bán là không được…” [4].

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới, trong bức thư gửi cho cán bộ ngành Y tế ngày 27-2-1955 có đoạn: “Người bệnh phó thác tính mạng của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật, và giữ sức khoẻ của đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy cán bộ cần phải thương yêu, phải săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. « Lương y phải như từ mẫu », câu nói ấy rất đúng ” .

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, cố Bộ trưởng Bộ Y tế, nhân một chuyến lên thăm Bệnh viện và công nhân lâm trường Thác Bà, Yên Bái, đã căn dặn cán bộ y tế của Bệnh viện lâm trường khi tiếp đón, chăm sóc bệnh nhân, phải:

Đến tiếp đón niềm nở,
Về dặn dò ân cần,
ở tận tình chăm sóc
“.

Chúng tôi nghĩ, đây cũng là lời của một người Bộ trưởng căn dặn cán bộ, viên chức của toàn ngành y tế nói chung chứ không chỉ riêng với cán bộ, viên chức của Bệnh viện Lâm trường Thác Bà, Yên Bái.

Và còn biết bao nhiêu những điều răn dạy của các bậc danh y, biết bao người đã toàn tâm toàn ý phục vụ người bệnh với cả cuộc đời mình. Không thiếu gì những người thầy thuốc đã lấy máu của mình để cho bệnh nhân khi cấp cứu, thậm chí có bác sĩ đã lấy cả “củ phong” chứa rất nhiều vi khuẩn phong (tức vi khuẩn gây bệnh hủi) nghiền nhỏ, tiêm vào cơ thể mình để chứng minh rằng phong là một bệnh khó lây v.v… Đó chính là Y đức.

Những nguyên nhân tác động đến y đức và biện pháp nâng cao đạo đức trong ngành Y tế

Theo chúng tôi, những nguyên nhân chính tác động đến y đức là cơ chế của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, vai trò quản lý nhà nước về y tế, sự tăng trưởng kinh tế, mức sống của đội ngũ thầy thuốc, việc đào tạo thầy thuốc trong các trường Y, Dược, vai trò tự quản lý của hội nghề nghiệp và dư luận xã hội điều chỉnh hành vi của cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân.

Về cơ chế của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tốt nhất là không nên để người thầy thuốc thu tiền trực tiếp từ bệnh nhân. Đành rằng trong cơ chế thị trường, dịch vụ khám chữa bệnh cũng như các dịch vụ khác, nghĩa là cũng có “kẻ bán, người mua“, nhưng sự mua bán này nên gián tiếp mà không nên trực tiếp, thí dụ bệnh viện không nên thu viện phí của bệnh nhân mà bệnh nhân nên mua bảo hiểm y tế, bệnh viện nhận kinh phí từ Công ty bảo hiểm y tế chuyển sang. Những dịch vụ công cộng thì Nhà nước phải chi trả ngành y tế. Nghĩa là không nên đặt đồng tiền xen vào giữa mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân. Hiện tượng phí ngầm là rất phổ biến trong các cơ sở y tế hiện nay, nhiều khi chi phí này cao hơn rất nhiều lần viện phí. Chính phí ngầm này là làm xói mòn đạo đức của ngành Y.

Sự tăng trưởng kinh tế và mức sống của đội ngũ thầy thuốc cũng có vai trò quan trọng trong y đức, vì khi kinh tế càng cao, đời sống của cán bộ y tế đã được nâng lên thì y đức cũng được nâng lên theo. Tất nhiên, không phải ở đâu và bao giờ y đức cũng luôn luôn tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng kinh tế và mức sống của cán bộ y tế. Nhiều khi sự tăng trưởng kinh tế lại tỷ lệ nghịch với y đức. Bởi vì mức sống cao thì nhu cầu cũng cao, giá cả nhiều loại cũng tăng tỉ lệ thuận với sự tăng trưởng kinh tế. Ngày xưa đi dự đám cưới, người ta tặng nhau quyển sách, chiếc phích hay cái soong, cái nồi đã là sang, nay thì không còn như vậy nữa. Hay ngày xưa, con cái đi học, làm gì có chuyện phải học thêm. Chiếc vé xem phim ngày xưa chi có một hào của người lớn, năm xu của trẻ em, nhưng ngày nay đã là 25.000đ[5]. Nhưng gía dịch vụ y tế thì không thể tăng lên hơn nữa. Bởi vì phần lớn người bị bệnh là người nghèo, vi người nghèo mới hay mắc bệnh và thường là bệnh trọng. Gía trị của dịch vụ y tế chênh lệch với gía cả do Nhà nước quy định về chăm sóc y tế cũng là một nguyên nhân gây nên phí ngầm.

Bác sĩ là một nghề được đào tạo lâu nhất, cẩn thận nhất, khó khăn, phức tạp nhất trong các ngành nghề đào tạo. Người bác sĩ phải học 6 năm, trong thời gian học lại phải thực tập ở phòng thí nghiệm, mổ xác, thực tập tại bệnh viện cũng bằng ấy thời gian, nhưng khi mới ra trường, cũng chỉ là “anh bác sĩ trẻ”, chưa được nhân dân tin tưởng. “Thầy già, con hát trẻ” mà. Đã thế, lương của bác sĩ học 6 năm còn thua lương một kỹ sư học 4 năm[6]. Ở các nước phát triển, lương Bác sĩ và Luật sư là những loại lương cao nhất. Đãi ngộ không tương xứng cũng là một trong các nguyên nhân gây y đức xuống cấp.

Ngoài các yếu tố trên đây còn đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường vai trò quản lý của mình bằng luật và các văn bản dưới luật, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời động viên, khuyến khích người làm tốt, xử phạt thích đáng những người vi phạm. Những việc hành nghề quá quyền hạn, quảng cáo sai sự thật, bán thuốc giả, bác sĩ thì vừa khám bệnh vừa bán thuốc, dược sĩ thì bán thuốc không cần đơn,… cần phải được ngăn chặn kịp thời.

Cũng như trên kia chúng tôi đã đề cập, nghề Y là một nghề đặc biệt, vì vậy không phải ai cũng có thể trở thành thầy thuốc được. Điều này cần phải xem xét ngay từ khâu tuyển sinh. Nghề y là nghề nhân đạo, vì vậy nó đối lập với kinh doanh. Những ai có mục đích sẽ kiếm tiền bằng nghề y thì tốt nhất là không nên tuyển họ vào trường. Và trong 6 năm trong trường đại học hay 3 năm trong trường trung học y, nhà trường đủ thời gian để đưa ra khỏi ngành những người thầy thuốc tương lai thiếu đạo đức. Vấn đề là ta có đặt ra không và tiêu chuẩn của người thầy thuốc là gì.

Khi đã ra trường rồi người thầy thuốc cần được hoạt động trong một hội nghề nghiệp để luôn luôn được sự giám sát của những người đồng nghiệp. Tổng hội Y Dược học Việt Nam và các Hội thành viên cần được trao cho quyền hạn hơn nữa và Hội cũng cần phải vươn lên hơn nữa để đảm bảo chức năng tự quản nghề nghiệp các hội viên của mình. Nếu người thầy thuốc vi phạm y đạo thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần xử lý nghiêm khắc. Còn khi một người thầy thuốc vi phạm y đức thì trước hết họ phải được xử lý trong hội nghề nghiệp của mình. Tự quản là một hình thức rất hữu hiệu để giữ gìn y đức trong ngành y tế.

Cuối cùng là vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng, nghĩa là của dư luận xã hội, trong việc điều chỉnh hành vi của người thầy thuốc. Theo chúng tôi, vai trò của báo chí rất quan trọng. Nhưng báo chí không chỉ nêu hiện tượng, sự việc, mà điều quan trọng hơn là nên phán xét. Nghĩa là báo chí cần biểu dương, động viên kịp thời những việc làm tốt, phê phán những việc làm sai trái của cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân. Mục đích là để điều chỉnh hành vi và thái độ ứng xử của cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân theo những chuẩn mực mà xã hội đã thừa nhận.

Tóm lại, y đức, y đạo đang là vấn đề nóng bỏng của xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Xã hội đòi hỏi người thầy thuốc phải có những phẩm chất đặc biệt. Để nâng cao y đức, chúng ta không thể hô hào chung chung mà phải xem xét nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về y đức và đề ra các biện pháp khắc phục ngay từ khi tuyển chọn cán bộ vào ngành. Cần kết hợp giữa việc quản lý nhà nước và tự quản trong hội nghề nghiệp. Mặt khác, mỗi người cán bộ y tế cũng phải tự trau dồi đạo đức của mình để xứng đáng với danh hiệu cao quý mà Bác Hồ đã dạy: Thầy thuốc phải như mẹ hiền./.

Hà Nội, 1995
————————————
Ghi chú
[1]Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988
[2] – Đây là bài viết từ trước khi Luật BVSKND được bổ sung, sửa đổi.
[3] – Hypôcrat (460 – 377 trước công nguyên) một nhà Y học danh tiếng người Hy Lạp cùng với con trai và con rể đã để lại một tập tài liệu mang tên “Công trình Hypôcrat”, cho đến nay đã trên hai ngàn năm vẫn còn giữ nguyên giá trị
[4] – Hải Thượng Lãn Ông y tôn tâm lĩnh, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp, 1994
[5] – Gía cả vào năm 1993.
[6] – Bài viết này viết trước khi cải tiến tiền lương năm 1995.

COMMENTS

WORDPRESS: 0