Thực phẩm làm thuốc và thuốc làm thực phẩm – BS Nguyễn Đức Kiệt

Chữa Rối loạn kinh nguyệt, rong kinh, thiếu máu – BS Nguyễn Đức Kiệt
Linh chi – Nguyễn Duy Chính
Cây cối xay – BS Nguyễn Đức Kiệt
Rau củ quả

Rau củ quả

Hàng ngày, người ta thường sử dụng thực phẩm làm thuốc và có một số loại thuốc lại được dùng làm thực phẩm. Thật hữu ích và lý thú là người nội trợ khéo bíêt kết hợp thuốc và thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày để nâng cao sức khoẻ và phòng bệnh, chữa bệnh cho cả gia đình.

Theo nghĩa thông thường, thuốc là những thứ được dùng nguyên dạng hay chế biến để phòng bệnh hoặc chữa bệnh cho người. Như vậy rất có nhiều loại thực phẩm có thể dùng làm thuốc từ cây cỏ, hoa quả đến động vật và khoáng chất. Đứng hàng đầu có thể kể đến là thực vật. Ví như bắp cải, ngoài tác dụng giúp cho con người trẻ lâu, nước ép của nó còn có tác dụng chữa bệnh loét dạ dày- tá tràng, vì nó chứa rất nhiều vitamin U. Ngay từ thời xưa, người Hy Lạp đã biết bắp cải có tác dụng chữa các bệnh đường mật, đường ruột, đặc biệt là chống loét. Ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, nước ép bắp cải là một thứ thuốc quý để chữa loét dạ dày-tá tràng. Y học cổ truyền và y học hiện đại đều công nhận bắp cải muối thêm một ít rau răm vừa ngon miệng, vừa có tác dụng kích thích tiêu hoá, giúp tiêu hoá chất mỡ và chất đạm, phòng ngừa được nhiều bệnh đường tiêu hoá. Như vậy thuốc chính là những thức ăn mà chúng ta vẫn ăn uống hàng ngày.

Các cụ ta ngày xưa thường lấy cám nếp rang thơm, trộn với mật ong cho phụ nữ mới sinh đẻ dùng vì khi cho con bú, nhu cầu vitamin nhóm B (B1, B2, B3, B6…) tăng lên rất nhiều so với lúc bình thường. Cách phổ biến theo cổ truyền vừa đơn giản và cũng rất hiệu quả. Chỉ cần chế biến đúng như kinh nghiệm cổ truyền thì sẽ tăng cường sức khoẻ, phòng bệnh và chữa bệnh rất tốt.

Khi bị táo bón các thứ rau và củ khoai lang, rau mồng tơi, rau đay, quả chuối tiêu, quả đu đủ, soài… có tác dụng như các thuốc nhuận tràng dùng rất tốt cả cho những người đang có thai  hoặc cho con bú mà không sợ tác hại như các thuốc tẩy, nhuận tràng khác.

Theo kinh nghiệm dân gian rau dền đỏ dùng trong có tác dụng trị nhiệt lỵ, mụn nhọt, dùng ngoài chữa được lở sơn. Rau mồng tơi có tác dụng giải nhiệt, chữa được táo bón, đái ít, đái đỏ, bí tiểu tiện, lòi dom; dùng ngoài chữa vú sưng nứt. Rau má là thứ rau ngày xưa được cha ông ta coi như loại “thực phẩm dự trữ” khi đói kém, còn có tác dụng bổ dưỡng, nhuận gan, cầm máu, tiêu viêm, tiêu độc, lợi tiểu, sát khuẩn, dùng chữa sốt xuất huyết, chảy máu cam, ho, tiêu chảy khát nước, kiết lỵ cấp tính, ngoại cảm, sốt cao, say sắn, sưng vú hoặc phụ nữ đau bụng hành kinh…

Nhân dân ta có thói quen khi bị cảm sốt thường ăn bát cháo nóng cho hành hay tía tô, cho ra mồ hôi, người sẽ cảm thấy rất nhẹ nhõm.

Các thức ăn có màu đỏ như gấc, cà chua, ớt, cà rốt… chứa nhiều vitamin A, có thể phòng, chữa bệnh quáng gà, mờ mắt do thiếu vitamin A.

Rau ngót, ngoài tác dụng là một thức ăn rất ngon, giàu vtamin C, còn có tác dụng chữa sót nhau, tưa lưỡi. Rau sam cũng là một loại rau được dùng thông dụng trong nhân dân. Rau sam vị chua, tính lạnh, dùng trong có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt, tiêu độc, chữa sán, giun kim; dùng ngoài chữa mụn nhọt (người đang rối loạn tiêu hoá, hay đau bụng lạnh, phụ nữ có mang đều không được dùng rau sam).

Bí ngô (tức bí đỏ), ngoài công dụng làm thức ăn, còn có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Theo kinh nghiệm dân gian và tài liệu cổ, bí ngô có vị ngọt, tính ẩm, bổ thần kinh, nhuận tràng, điều hoà tì vị, có tác dụng chữa táo bón, nhức đầu, suy nhược thần kinh (người đang rối loạn tiêu hoá không nên ăn). Người ta thường chữa đau đầu lâu năm bằng cách dùng bí ngô già khoét bỏ ruột, cho một ít đậu xanh và một ít gạo nếp vào, đổ ngập nước, đun nhỏ lửa, ăn ngày một lần, ăn vài lần sẽ có tác dụng rõ rệt.

Nhiều thứ thực phẩm và gia vị khác như hoa thiên lý, bí đao, củ cải, cải xanh, đậu ván, hành, tỏi, nghệ, riềng, gừng, tía tô, xương sông, lá mơ, lá lốt, rau mùi, rau răm, mướp đắng… đều có tác dụng chữa bệnh. Nhiều loại hoa quả cũng có tác dụng chữa bệnh rất tốt như khế, dừa, táo, bưởi, cam, chanh, dâu, chuối, mít, me, mãng cầu, đu đủ, sim, nhãn, vải…

Người bị bệnh mạn tính đường tiêu hoá không nên ăn các thức ăn dễ kích thích như ớt, hồ tiêu, dưa chua, dấm, rượu… cẩn thận khi ăn các thức ăn gây rối loạn tiêu hoá như trứng, cá…

Người bị thấp khớp và dị ứng phải cẩn thận khi ăn các thức ăn “lạnh” như cua, ốc, cá… và khi chế biến cần có các gia vị phù hợp để “trung hoà”. Ví dụ cua rang với lá gừng, ốc nấu với chuối xanh tía tô, lá lốt. v.v…

Khi chán ăn ta dùng nhân trần, chè nội, vỏ quít… bị tiêu chảy dùng ổi xanh, búp ổi, búp sim, gừng nướng, riềng, vỏ măng cụt…; bị kiết lỵ dùng rau sam, cỏ sữa…; mất ngủ uống hạt muồng muồng, lá vông, ăn canh cỏ ấp bợ (ấp bợ mà nấu canh cua, ai chết nửa mùa sống lại mà ăn!)…; cảm sốt ăn cháo hành, tía tô… say nóng, say nắng uống bột sắn dây, nước sắc mạch môn, chè đậu đen, nước mơ…; mệt mỏi ăn cháo đậu xanh, hạt sen, đậu tương, cùi nhãn (long nhãn)… yếu sinh lý ăn nhiều giá đỗ, hành ta, hành tây, rau cần tây, sôcôla, trứng, thịt dê, “ngẩu pín”…; mờ mắt uống nước sắc hạt muồng muồng (hạt thảo quyết minh)… tăng huyết áp ăn tỏi, uống nước hoa cúc, hoa hoè, thảo quyết minh v.v…

Ngày xưa nhân dân ta thường chuẩn bị cho bà đẻ rượu nếp cẩm (khoảng 3 lít) cho vào một bình bằng sành, thêm chục trứng gà và nửa lít mật ong, chôn xuống đất (hạ thổ) 3 tháng 10 ngày, sau khi đẻ mỗi ngày ăn một chén con trước bữa ăn chính hoặc trước khi đi ngủ. Đó quả thật là một loại thuốc bổ quý giá cho những người sinh nở.

Nói đến thức ăn chữa bệnh, không thể không nói đến rượu và giấm. Theo các tài liệu cổ, rượu vị cay, tính nóng, mùi thơm nồng, có tác dụng hành huyết, sinh khí, khai uất, trừ phong, dẫn thuốc, dùng ít thì giúp cho sức lực cường tráng, tăng sinh khí, dùng nhiều hư tổn phủ tạng gây suy gan, hại thận, nhiễm độc thần kinh…

Giấm là một gia vị quen thuộc, thường dùng thay chanh. Theo Y học dân tộc, giấm có vị chua – ngọt, tính ấm, dùng trong có tác dụng khai vị, giải độc thức ăn, trừ sán (dùng với rau sam: rau sam  100g, đun kỹ với 2 bát nước trong nồi đất, còn 1 bát, cho thêm một thìa giấm thanh với vài hạt muối, uống vào buổi sáng, lúc đói, sau khi ngủ dậy); dùng ngoài chữa ngứa, tan ứ huyết, tiêu ung nhọt, giảm sưng tấy, tan khối tích.

Và còn biết bao nhiêu thứ thực phẩm khác nữa ta có thể dùng để phòng và chữa bệnh. Trên thế giới, đã xuất hiện một phương pháp chữa bệnh bằng ăn uống, tức phương pháp “thực trị, ẩm trị”. Nghĩa là trong phòng bệnh và chữa bệnh, chúng ta không cần dùng thuốc mà chỉ cần điều chỉnh các món ăn, thức uống, tức là  tăng lên hoặc giảm đi các thức ăn, đồ uống thông thường hàng ngày là có thể phòng và chữa được bệnh. Thí dụ tăng huyết áp, xơ vữa động mạch nên hạn chế ăn muối, các chất béo, các loại phủ tạng động vật…; ngược lại cần ăn các thức ăn lợi tiểu như rau cải, hoa quả…;

Trong quyển “Phòng và chữa bệnh bằng món ăn hàng ngày” ông Vương Thừa Ân đã liệt kê ra 11 loại rau, 24 loại quả, 10 loại hạt, 9 loại củ, 21 loài động vật và 27 loại thảo mộc làm gia vị khác có tác dụng phòng và chữa bệnh. Một số loại thuốc lại được nhân dân ưa dùng làm thực phẩm trong những dịp cỗ bàn đình đám như ý dĩ nhân (hạt ý dĩ), hoài sơn (củ mài), liên nhục (hạt sen), bạch biển đậu (hạt đậu ván trắng), trần bì (vỏ quýt)…

Tóm lại, Việt Nam ta là vùng nhiệt đới gió mùa, cây cỏ bốn mùa xanh tốt, rất phong phú, tiện lợi cho người phụ nữ chế biến món ăn cho cả gia đình. Nhân dân ta lại có kinh nghiệm hàng ngàn năm chế biến những loại thực phẩm, gia vị vừa ngon miệng, vừa có tác dụng trong phòng chữa bệnh mà lại để được rất lâu không sợ hỏng, như mẻ, tương, nước mắm, mắm tôm, mắm tép, mắm cáy… Chỉ cần có chút kinh nghiệm, người nội trợ có thể biến các thực phẩm và gia vị thành thuôc và thuốc thành thực phẩm để bảo vệ sức khỏe cho cả gia đình./.

COMMENTS

WORDPRESS: 0